Cây mã đề (xa tiền thảo) là vị thuốc Nam tính lạnh, vị ngọt, nổi bật với công dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu và hỗ trợ điều trị sỏi tiết niệu, viêm bàng quang, ho có đờm rất hiệu quả.

Dược liệu Cây mã đề.
Mã đề là một dược liệu quen thuộc trong Y học cổ truyền, thường được biết đến với nhiều tên gọi khác như Xa tiền thảo, Mã đề thảo. Cây thường mọc thành từng cụm, lá có cuống dài, phiến lá hình bầu dục hoặc hình thìa, các gân lá chạy dọc theo phiến lá khá rõ. Hoa mọc trên những cán dài, tạo thành cụm hoa hình bông.
Bộ phận dùng:
Trong dược liệu Mã đề, nhiều bộ phận của cây đều có thể được sử dụng làm thuốc, bao gồm thân, lá, rễ và hạt. Trong đó, hạt Mã đề được gọi là Xa tiền tử, còn phần cây trên mặt đất thường được gọi là Xa tiền thảo. Tùy theo mục đích sử dụng và bài thuốc, từng bộ phận có thể được lựa chọn và sơ chế theo những cách khác nhau.
Theo Y học cổ truyền, Xa tiền thảo và Xa tiền tử thường được sử dụng với công năng thanh nhiệt, lợi niệu, hỗ trợ bài tiết nước tiểu. Một số nghiên cứu dược lý hiện đại cũng ghi nhận các hợp chất trong Mã đề có tiềm năng liên quan đến tác dụng chống viêm và lợi tiểu.
Nhờ sự kết hợp của nhiều hoạt chất tự nhiên, Mã đề được sử dụng trong nhiều bài thuốc và sản phẩm dược liệu, đặc biệt trong các bài thuốc theo hướng hỗ trợ chức năng tiết niệu và thanh nhiệt cơ thể.

Tinh vị và công năng
Tính chất của cây mã đề:
Các tác dụng của cây mã đề theo Y học cổ truyền:
Hoạt chất plantagin làm tăng tiết niêm dịch phế quản, ức chế trung khu hô hấp (giảm hưng phấn thần kinh), làm thở sâu và chậm (điều hoà hô hấp).
Mã đề các tác dụng ức chế trung tâm hô hấp và trung tâm ho, ức chế phản xạ ho gây nôn. Thuốc bào chế phối hợp mã đề với terpin có tác dụng điều trị các bệnh viêm cấp tính đường hô hấp trên do siêu vi và không do siêu vi, giảm phản xạ, làm nhẹ quá trình cương tụ niêm mạc hô hấp, có tác dụng long đờm, phục hồi giọng nói trong viêm thanh quản cấp và chữa ho tốt.
Hoạt chất plantamajosid có tác dụng kháng khuẩn đối với trực khuẩn E.coli và tụ cầu vàng.
Kháng khuẩn với một số chủng gây bệnh ở da. Mã đề tán bột chế thành thuốc đắp lên mụn nhọt có thể làm cho mụn đỡ mưng mủ và viêm tấy.
Thuốc mỡ bào chế từ nước sắc mã đề đậm đặc 100% điều trị bỏng do vôi, nước sôi, lửa với diện tích bỏng 2 – 45% đạt kết quả tốt. Vết bỏng đỡ nhiều trùng, ít mủ, giảm mùi hôi thối, lên da non tốt, thịt phát triển đều, không sần sùi, giảm được lượng thuốc kháng sinh dùng toàn thân.
Nước sắc Mã đề có tác dụng lợi tiểu, làm tăng lượng nước tiểu, ure, acid uric và muối trong nước tiểu.
Cao cồn Mã đề có tác dụng bảo vệ gan rõ rệt đối với tổn thương gan gây carbon tetraclorid trên động vật.

Câu chuyện cây mã đề.














Mã đề, ma hoàng, thạch cao, đại táo thêm quế chi và cam thảo 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang thuốc.
Mã đề 16g; phục linh, hoàng bá, rễ cỏ tranh, liên cần, mỗi vị 12g; mộc thông, trư linh, mỗi vị 8g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang thuốc.
Mã đề 16g; hoàng liên, phục linh cần, hoàng bá, mỗi vị 12g; trư linh, rễ cỏ tranh, mộc thông, mỗi vị 8g, bán hạ chế và hoạt thạch. Sắc uống mỗi ngày 1 thang thuốc.
Mã đề 20g; bồ công anh, hoàng cầm, lá chi tử, mỗi vị 15g; kim tiền thảo, cỏ nhọ nồi, ích mẫu, rễ cỏ tranh, cam thảo, mỗi vị vài gram. Sắc uống mỗi ngày 1 thang thuốc, sử dụng liên tục trong vòng 10 ngày.
Mã đề tươi, rễ cỏ tranh tươi, mỗi vị 50g; cỏ bấc đèn tươi 500g. Sắc mỗi ngày 1 thang, chia thành 2 lần và uống trong khoảng 5 – 7 ngày.
Mã đề, rau diếp cá, kim tiền thảo, mỗi vị 30g. Sắc mỗi ngày 1 thang, chia thành 2 lần và uống liên tục trong 5 ngày.
Mã đề, rễ cỏ tranh, mỗi vị 20g, kim tiền thảo 30g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang thuốc, uống nhiều lần trong một ngày tương tự uống trà.
Lá mã đề, lá ích mẫu, mỗi vị 12g. Giã nát, vắt lấy nước cốt uống.
Mã đề 10g; cát cánh và cam thảo, mỗi vị 2g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang thuốc.
*Lưu ý: