
Cây bầu đất hay cây kim thất thuộc họ cúc là một cây thuốc nam quý dạng cây thảo mọc bò và hơi leo, cao đến 1 mét. Các thành phần dinh dưỡng của cây gồm có nước, protein, gluxit, xơ, tro, caroten và vitamin C. Cây có thể sử dụng toàn thân để làm thuốc với các tác dụng như:
Về mặt Đông y, cây bầu đất có vị cay, ngọt, thơm, hơi đắng, tính bình có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm, tán ứ, tiêu thũng, chỉ khái.

Hầu hết phân bố ở nhiều nước châu Á như Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Philippines và Việt Nam. Ở nước ta, cây thuốc này thường mọc hoang dại, phân bố từ Nam ra Bắc. Cây cũng được trồng làm rau ăn và làm thuốc. Người ta thu hái vào mùa hạ, dùng toàn cây tươi, có thể phơi khô.









Cây bầu đất thường được dùng làm rau ăn với cành lá và ngọn non, có thể chế biến thành món xào, luộc lên chấm mắm, trộn dầu giấm hay nấu canh cua.
Cùng với dạng tươi, bầu đất cũng có thể đem phơi khô để sử dụng với liều dùng là từ 10g đến 15g.
Ngoài ra, cũng thường được sử dụng kết hợp cùng các loại dược liệu khác giúp chữa trị sốt; tình trạng thiếu máu; kinh nguyệt không đều; đau mắt đỏ; đái són, đái buốt, đái dầm ở trẻ em; sốt phát ban và lỵ;…

Lá rửa sạch, thêm vài hạt muối, giã nhỏ đắp lên mắt đau.
Bầu đất tươi 80g, sắc nước uống.
Hoặc phối hợp 30g Bầu đất, 20g Mã đề, 20g râu Ngô, sắc nước uống, ngày 1 thang.
Bầu đất sắc nước uống với bột Thổ tam thất và Ý dĩ sao với liều bằng nhau, mỗi lần 10 – 15g. Ngày uống 2 lần.
Bầu đất tươi, thêm vài hạt tiêu, giã nát đắp vào vùng bầm tím. Đắp mỗi ngày 1 lần, lượng thuốc tùy vùng cần đắp.
Bầu đất nấu canh ăn hằng ngày, lượng vừa đủ dùng, nên ăn vào buổi trưa